Flower land

Tuesday, February 22, 2005

Cây và hoa


(Trích "Sống Đẹp" - Lâm Ngữ Đường)



Trong số hàng vạn loài cây, các danh sĩ và thi nhân Trung Hoa cảm thấy rằng vài loại có vẻ đẹp đặc biệt vì cái thế và đường nét của nó hợp với thư pháp và gây cho ta cái thú thưởng ngoạn. Một số cây thường được họa trong thi ca; nhất là loài tùng hùng vĩ, loài mai thanh kì, loại trúc tao nhã, thân mật và loại liễu yểu điệu như thiếu nữ.

Đẹp cũng có nhiều vẻ : có cái đẹp nhu hòa, có cái đẹp thanh nhã, có cái đẹp hùng vĩ, có cái đẹp trang nghiêm, có cái đẹp kỳ dị, có cái đẹp mạnh mẽ, có cái đẹp cổ kính... Chính vì có vẻ đẹp cổ kính mà cây tùng có một vị trí đặc biệt; nó như một cao sĩ ở ẩn, bận chiếc áo trắng, chống gậy trúc, đi trong núi. Lý Lạp Ông bảo rằng ngồi trong một vườn trồng đầy liễu và đào, mà bên cạnh không có cây tùng thì chẳng khác nào ngồi chung với bọn trai thanh gái lịch mà bên cạnh không có một ông già để chỉ giáo mình.

Người Trung Hoa chơi tùng, lựa những cây già; càng già càng đẹp vì càng hùng vĩ. Cây bách cũng hùng kỳ, được quý gần như cây tùng, cành nó cong queo mà lại rũ xuống. Những cây mà cành lá đưa lên tượng trưng cho thiếu niên, còn những cây rủ xuống tượng trưng cho ông già ngó xuống đàn trẻ.

Tùng khả ái ở chỗ nó có ý nghĩa về nghệ thuật, thể hiện thái độ ẩn dật, u tĩnh, hùng vĩ. Vì vậy mà người ta thường vẽ tùng với đá và một ông già. Lão Tử bảo đại khối trầm tĩnh vô ngôn, mà cây tùng cũng vô ngôn, yên lặng nhìn xuống thế giới, tựa như đã từng trải cảnh tang thương ở cõi đời rồi. Nó như một ông già minh trí, cái gì cũng biết, nhưng không muốn nói ra, thành thử nó có vẻ vĩ đại mà thần bí.

Loài mai khả ái ở cái vẻ lãng mạn và hương thơm của nó. Các thi nhân thường gọi tùng, trúc, mai là "tam kiệt" hoặc "tam hữu" của mùa đông; vì trúc và tùng quanh năm xanh mà mai tới cuối đông đầu xuân nở hoa, tượng trưng cho sự cao khiết. Hương của mai cũng đặc biệt, trời càng lạnh thì càng thơm, người ta gọi là "lãnh hương" (hương lạnh). Nó với loài lan tượng trưng cho phong vận u tĩnh. Thi sĩ ẩn dật đời Tống là Lâm Hòa Tĩnh, thường tự cười mình là cưới mai làm vợ, nuôi hạc làm con. Di tích của ông nay còn ở núi Cô Sơn, tại Tây Hồ, bên cạnh ngôi mộ ông có một ngôi mộ của hạc, mỗi năm thi nhânvăn sĩ tới viếng rất đông.

Người ta yêu trúc vì cành lá nó mảnh mai, mềm mại, cho nên ưa trồng trong vườn để hưởng thú gia đình. Vẻ đẹp của nó là cái vẻ tươi cười ôn hòa. Trúc càng gầy nhỏ, càng thưa thớt thì càng đẹp, nên người ta chỉ trồng vài ba gốc thôi, vã vài ba cành thôi, cũng như vẽ mai, chỉ nên vẽ một cành một. Vẽ trúc, nên vẽ một tảng đá ở bên, vì trúc và đá phối hợp đặc biệt với nhau.

Liễu thường trồng nơi bờ nước. Loài đó tượng trưng cái đẹp của phụ nữ, cho nên Trương Thảo bảo là "liễu dễ cảm lòng người". Người đàn bà đẹp, mảnh mai, người Trung Hoa gọi là mình liễu. Các vũ nữ bận áo rộng để múa cho có cái vẻ cành liễu múa dưới gió. Vì liễu dễ trồng nên ở Trung Hoa nhiều nơi trồng những rặng liễu dài mấy dặm, gió nổi lên, thành những đợt "sóng liễu". Loài Hoàng Oanh và ve sầu rất ưa đậu ở cành liễu, cho nên vẽ liễu, người ta thường vẽ thêm mấy con hoàng oanh hoặc con ve. Vì vậy trong 10 cảnh đẹp Tây Hồ có một nơi gọi là "Liễu lãng đấu oanh" (Trong sóng liễu oanh tranh nhau hót).

Hoa có thứ hương nồng như hoa lài, có thứ hương tĩnh như lan, hương càng tĩnh càng quý; có thứ sắc rực rỡ, có thứ sắc đạm nhã, càng đạm nhã càng quý. Hoa nở có mùa, trông sen ta tưởng tượng cảnh gió mát trên bờ hồ, ngắm mai, ta nhớ cảnh tuyết đổ mùa đông...

Lan, cúc. mai, sen, mẫu đơn là những danh hoa, tùy sở thích của mỗi người. Thi nhân Trung Hoa thường cho mai là hoa khôi, vì nó nở vào dịp Tết, ngày đầu năm, trước cả các loài hoa khác, nhưng có người cho mẫu đơn là hoa vương. Thứ hoa này tượng trưng phú quý, đời Đường rất trọng, còn hoa mai tượng trưng ẩn dật. Có truyền thuyết về loài mẫu đơn bị Võ Tắc Thiên đày rời khỏi vườn Thượng Uyển ở kinh đô Tây An xuống Lạc Dương. Vì vậy mà sau này loài hoa đó rất thịnh ở Lạc Dương. Trung Hoa hồi xưa có đến chín chục giống mẫu đơn, mỗi giống có một tên nên thơ.

Lan, trái hẳn với mẫu đơn, có cái đức "cô phương độc thưởng", không cần người ta biết tới mình, chỉ thích những hang sâu mà ghét nơi náo nhiệt; cho nên có thành ngữ : "không cốc u lan" để chỉ các cao sĩ ẩn cư.

Thi sĩ Lâm Hoà Tĩnh rất yêu mai, nho gia Chu Liêm Khê rất yêu sen, Đào Uyên Minh yêu cúc. Có rất nhiều giống cúc, mỗi giống một màu sắc, một hình dáng, nhưng màu trắng và vàng mới là chính sắc. Tôi yêu sen nhất vì nó có cả sắc lẫn hương mà không bộ phận nào của nó là vô dụng.

Ngoài ra còn có nhiều loại cây khả ái nữa, mỗi cây một vẻ. Đặc biệt là miền Mộc Độc, bên bờ Thái Hồ ở Tô Châu có 4 loại bách già có tên là "thanh", "kỳ", "cổ", "quái". Loại "thanh bách" thân cây đâm thẳng lên trời, cành lá xòe ra như cái tán. Loài "kỳ bách" nằm ngang trên đất, thân cành uốn thành hình chữ Z. Loại "cổ bách" trụi lá, đưa những cành nửa khô lên trời như những ngón tay. Loài "quái bách" từ gốc trở lên, thân vặn hình xoáy ốc....

Điều quan trọng nhất là yêu cây chẳng phải chỉ vì cây mà còn vì những vật thiên nhiên khác như mây, đá, điểu và người. Trương Trào bảo : "Trồng hoa để mời bướm, chất đá để mời mây, trồng tùng để mời gió...trồng chuối để mời mưa, trồng liễu để mời ve". Người ta yêu cây thì yêu cả tiếng chim hót trên cây, yêu đá thì yêu cả tiếng dế gáy bên đá, vì có cây thì có chim hót, có đá thì có dế gáy. Người Trung Hoa thích nghe tiếng ếch nhái, tiếng dế, tiếng ve hơn là yêu mèo, chó và các con vật khác. Trong tất cả các loài động vật, chỉ có loài hạc được quý ngang với tùng và mai, vì nó cũng tượng trưng cho sự ẩn dật. Cao sĩ nào thấy một con hạc hoặc một con cò trắng, thanh khiết, ngạo nhiên độc lập trong một cái đầm lầy hay hồ vắng vẻ cũng ước ao được biến thành loài hạc .

Trịnh Bản Kiều, trong một bức thư viết cho em, khuyên đừng nhốt chim trong lồng, vì chúng ta nên dung hòa với thiên nhiên mà vui cùng vạn vật :

''Anh bảo em không nên nhốt chim trong lồng không phải vì anh không yêu chim, mà vì có cái đạo yêu chim, nuôi chim. Muốn nuôi chim thì không gì bằng trồng vài trăm cây chung quanh nhà để chim tới đó tìm lá xanh bóng mát làm tổ. Như vậy, sáng sớm, tỉnh dậy đã được nghe tiếng chim ríu rít như khúc hòa tấu trên thiên cung. Rồi nhìn thấy nó vỗ cánh rực rỡ, bay qua bay lại, mắt ta nhìn theo không kịp. Cái vui nhìn chim trong lồng đâu sánh được cái vui đó ? Vũ trụ là một cái vườn, sông ngòi là những cái vũng, mà vật nào cũng được vui sống hợp với bản tính của nó. Lạc thú đó mới thật lớn, gấp bao lần cái vui nhìn chim lồng, cá chậu !''

Chuyện hoa





Hoa có một vị trí trang trọng đối với con người. Nó không thể thiếu trong các nghi lễ, giao tiếp, thưởng ngoạn. Hoa là biểu hiện cao khiết trong đời sống tinh thần .

Mỗi loài hoa có một vẻ đẹp riêng. Có điều, ngoài màu sắc, dáng vẻ, hương thơm… hoa thực sự toát lên tinh anh ở những thời điểm, vị trí nhất định. Bạn có bao giờ ngắm hoa dằng dưới trăng chưa? Dằng phủ trên gai dại khắp các đồi, gò một màu trắng loá những bông hoa thanh tú rắc từng chùm sáng sinh động dưới trăng, chừng như chỉ chiếu sáng cho riêng chúng, còn hương thơm toả ra ngây ngất cả vùng. Lúc này, mọi loài hoa sang trọng khác phải xin nhường. Mai chiếu thuỷ nở rộ vào tháng hai. Sáng sớm, khi sương chưa tan, khí trời trong lành, thoảng nhẹ hương thơm, hoa thanh khiết và duyên dáng lạ thường. Bởi cuống hoa thật mảnh và dài nên những nụ lớn tròn căng những chấm trắng cùng hoa nở đều cúi mặt như e thẹn, cuống hoa lại như chùm tia sáng toả xuống tạo nên vẻ hư thực kỳ lạ. Trưa càng nắng, bông trang, bông bụt càng ngời sắc đỏ. Bông chuối nước chỉ đẹp khi đứng ở góc vườn, bờ rào. Đi qua vùng cỏ may, nghe mang mang mùi nắng, biết chiều đang xuống vội vàng …

Không phải ngẫu nhiên dân gian có thành ngữ: “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”. Thậm chí thời Bắc Tống, danh sĩ Lâm Pha yêu mai say đắm, trồng mai để sớm chiều bầu bạn. Còn Tống Huy Tôn (1108–1135), ông vua đam mê nhan sắc và hoa mai đến nỗi mất cả ngai vàng nhưng đã để lại cho đời bức danh hoạ két 5 màu đậu trên cành mai hiện là một báu vật ở viện mỹ thuật Boston. Hoa mai làm ông bất tử!

Người phụ nữ thường được sánh với hoa: mặt hoa, lệ hoa, giấc mơ hoa… cụ thể là những cành phù dung, đoá trà mi, bông hoa lài… Nhưng có lẽ ở phương diện so sánh sắc đẹp người và hoa, phái đẹp gắn với hoa hồng là sát hợp nhất. Hãy xem nụ hồng tinh khôi mơn mởn xinh xắn. Cái e ấp vẫn còn hồn nhiên lắm. Rồi rạo rực nhoài ra mãnh liệt bằng những mộng mơ, chợt ngạc nhiên trước chập chờn vài cánh bướm khi kín đáo thoảng nhẹ làn hương vào tuổi dậy thì. Hàm tiếu đây, nét môi thắm, má ửng hồng, nét tròn căng nguyên trinh thiếu nữ, hương dù còn kín vẫn mãnh liệt xiết bao! Bán mãn khai… rồi mãn khai: này đây hương này đây sắc, tôi đây, dữ dội và mãnh liệt buổi hồi xuân, loé sáng cuối cùng. Và kia, từng cánh hoa bắt đầu nhàu nhò, đổi sắc, tàn phai… Một đời hoa!

Chẳng biết có phải vì sợ sự liên tưởng tàn nhẫn ấy không mà xưa nay các nhà thơ ít tả hoa tàn. Hoa nở đẹp phơi phới bao nhiêu thì hoa tàn úa xấu xí và thật buồn bấy nhiêu. Bởi vậy, cảm xúc sẽ không hề suy giảm khi ngắm cảnh tàn hoa. Mỗi loài hoa có cách nở khác nhau thì cũng tàn, chết không giống nhau. Những cánh cúc vàng lả tả rơi trong gió xuân vẫn còn nguyên sắc – luyến tiếc gì chăng hoa? Mặc chu lan sầm mặt giận dữ còn đoá hồng hom hem đau đớn quặn lòng! Duy chỉ có quỳnh hoa không tàn mà chết trên cành xanh. Hoa xuôi tay gục xuống, ngút lên nỗi đau rất thật trong ta.

Tào Tuyết Cần đưa một chi tiết thật đắt vào Hồng Lâu Mộng: nàng Lâm Đại Ngọc gom nhặt rồi khóc chôn những cánh hoa tàn! Trên đời này, đã mấy người thực sự khóc hoa? Và Tố Như, chúng tôi hiểu ông, nước mắt đã nhiều, xót thương đã lắm nên mới “tìm thấy” cảnh hoa tàn mà lại thêm tươi. Vâng, chỉ có trái tim cực kỳ nhân hậu mới toả thành ánh nhìn hiếm hoi ấy!

Ai đã từng trồng hoa hẳn biết rằng công lao chăm sóc, tưới bón một ngày nào đó cây sẽ đền ơn. Vậy mà hầu hết cứ sững sờ, lòng bật lên tiếng reo vui lúc phát hiện chồi hoa đang nhú ra. Ngạc nhiên đến ngây ngô trước hương trước sắc, rằng: nó từ đâu đến, giữa lá cành, gốc rễ với chậu đất ẩm đen sì? Cây mai thường làm nhiều người mất ăn mất ngủ. Chăm chút cả năm trời, những ngày tháng chạp quyết định sự thành bại. Gặp thời tiết diễn biến thất thường, người mỏi mắt thắt lòng chờ mãi nụ chưa trồi ra khỏi áo, kẻ đếm hoài số ngày còn lại khi mới rằm, hoa đã rực cây. Đâu chỉ người kinh doanh, ai có một chậu mai mà hoa vào tết không đạt, chẳng buồn? Loay hoay “chữa chạy”, thắc thỏm trông mong, sáng sớm đầu năm, vài bông rưng rưng hé nở là phút giây hạnh phúc vô cùng! Rất nhiều lần, vì hoa, tôi chứng kiến tiếng reo vui trẻ thơ và nỗi buồn chết lặng của những người bạn. Hoa gần gũi, thân thiết với con người xiết bao! Chẳng thế mà Abutalip, nhà thơ nhân dân của Đaghextan nói rằng người đàn ông chỉ quỳ xuống trong hai trường hợp: uống nước suối nguồn và với hoa !

Thuở nhỏ chăn bò, nhiều lần nằm trên vạt cỏ chiều, tôi thử nhá ngọn cỏ mềm mà chẳng hiểu vì sao bò ăn ngon vậy, mê mẩn ngắm hoa rau đắng trắng li ti, dí cái mũi khổng lồ như thằng tồ bên những ngôi sao bé xíu. Lớn lên một chút, có lần giữa trưa hè, đứng bên bờ đầm, cầm lòng không đậu, tôi lội ra ngắt trộm một búp sen hồng, áp môi mình lên lớp cánh mềm ấm nắng, lòng ngất ngây mơ mộng …

Giờ ngồi viết những dòng này giữa một vườn hoa: tố tâm lan, từ bi, hồng, sứ… lòng chợt dâng lên một ước muốn chân thành rằng: Tặng hoa là hành vi thật đẹp con người đã nghĩ ra… Và mọi người sẽ còn tặng hoa nhau mãi mãi, mỗi người ít nhất trong đời tìm thấy một lần cảm xúc:

Người về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi
(Tô Thùy Yên)

Lê Hoài Lương


Sunday, February 20, 2005

Lời Giao Cảm


Ngôn ngữ tình yêu cũng là ngôn ngữ loài hoa


Những cánh Tử đinh hương rực sáng trên bàn đón chào ta vào buổi sớm mai, hay những cánh Dạ lan hương tỏa ngát trong đêm tĩnh lặng. Một bó Linh lan để đón mừng ngày lễ hội, hay chỉ một chùm Kim ngân đơn sơ tô điểm cho một ngày bình thường trong đời; một cụm hoa Anh thảo để chia sẻ niềm vui hay chỉ một đóa Thủy tiên vỗ về nỗi buồn.

Tuyệt vời hơn nữa khi mà mỗi loài hoa đều mang một ý nghĩa riêng ẩn chứa bên trong. Từ thuở xa xưa, hoa đã được dùng để truyền đạt những sứ điệp của tâm hồn. Người La Mã xưa tôn vinh các anh hùng bằng những vòng nguyệt quế, thần thọai Hy Lạp kể cho chúng ta nghe về sự tích các loài hoa. Trong tác phẩm Hamlet bất hủ, nàng Ophelia đã nói về ý nghĩa của những cánh hoa mà nàng ôm trong vòng tay, bởi lẽ đại văn hào Shakespeare vốn rất am tường về hoa. Các nhà thơ từ cổ chí kim đã không ngớt ca tụng vẻ đẹp của muôn hoa.

"When words escape, flowers speak"


Suốt bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, các loài hoa phong phú đa dạng luôn giúp ta diễn đạt tình cảm của mình mà không cần dùng đến lời nói hay chữ viết. Hãy gửi đi một dây Thường xuân để nói lên lòng chung thủy, và nếu có kèm vài bông Trường thọ sẽ là bức thông điệp đòi hỏi sự hồi đáp cho lòng thủy chung. Hãy gửi đi những đóa Cẩm chướng để nói lên nỗi lòng một kẻ si tình đau khổ. Còn hoa Thủy tiên ư ? Chính là tượng trưng cho lòng kiêu hãnh của người đã gửi chúng. Nếu hoa Hồng xứ Capcadơ là sứ thần tình yêu thì hoa Hồng Pháp là lời hẹn hò gặp gỡ dưới ánh trăng đêm, và hoa Hồng vàng lại có nghĩa là tình yêu đang dần nhạt phai...

Hoa là tặng vật của Tạo hóa ban cho con người và là tặng vật của chúng ta cho nhau. Những cánh hoa mỏng manh đẹp tuyệt vời kia luôn thì thầm nói với chúng ta nhiều điều. Vậy thì, xin mời bạn đến đây cùng với những câu chuyện từ lời cỏ hoa.


Nguyễn Thanh Thủy

Ngôn ngữ của loài hoa

Nguyễn Bích Nhã - Châu Nhiên Khanh)


Ngôn ngữ các loài hoa đã có tự ngàn xưa, từ khi trái tim con người biết rung những nhịp đập tình yêu đầu tiên. Nó hiện diện trong tất cả các nền văn hóa khác nhau. Người Hy Lạp được xem là những nhà chơi hoa sớm nhất. Những người hát rong, những nhà thơ, các chiến binh...tất cả được khen thưởng bằng những vòng hoa phù hợp. Người La Mã đã đặt ra lễ hội để tôn vinh các loài hoa hàng năm, từ hơn 600 năm trước Công nguyên.

Ngôn ngữ của loài hoa đã sớm được nhiều nước châu Âu hiểu rõ và ứng dụng tài tình. Ý nghĩa các loài hoa rất được xem trọng. Trong suốt thời Trung Cổ, người hiệp sĩ có thể biểu lộ tình cảm của mình bằng cách đeo phù hiệu (bằng những bông hoa) của người tình trên chiếc mũ sắt. Và chính người phụ nữ đó cũng bày tỏ tình cảm của mình với anh ta qua các đóa hoa cài trên người.

Người ta nói rằng, chính bà Mary Wortley Montagu, vợ của Đại sứ Anh tại Constantinople, đã đưa khái niệm ngôn ngữ các loài hoa của phương Đông vào Anh năm 1717 . Kèm với bức thư của mình, bà gởi một nụ Đinh hương, một cành Trường Thọ, một quả Lê, một bông Hồng, một cọng rơm, một cọng rơm, một miếng quế và một ít hột tiêu. Những bông hoa, trái cây và gia vị này là những biểu tượng khá bí ẩn, đã được hiểu như sau :

Nụ đinh hương : "Em mảnh mai như nụ đinh hương này. Em là một đóa hồng còn nằm trong nụ. Tôi đã yêu từ lâu và em không hay."

Cành trường thọ : "Đáng thương cho sự say mê của tôi !"

Quả lê : "Hãy cho tôi một ít hy vọng ! "

Hoa hồng : "Em có thể hài lòng, và nỗi buồn của em là của tôi ! "

Một cọng rơm : "Tôi là nô lệ của em."

Một miếng quế : "Số phận của tôi thuộc về em."

Hạt tiêu : "Hãy gửi cho tôi một câu trả lời"

Ngày nay, dựa theo đặc điểm nội dung của thông điệp muốn bày tỏ, tùy theo sự đa dạng của các loài hoa có thể có được, và tùy theo sự sáng tạo độc đáo của người gởi, chúng ta hoàn toàn có thể "nói" bằng ngôn ngữ của loài hoa. Và dĩ nhiên, một bông Hồng đỏ là cách đơn giản nhất để nói rằng "Anh yêu em".

Biết thêm một ngôn ngữ là khởi đầu cho nhiều khám phá thú vị. Hơn thế nữa, ngôn ngữ của loài hoa lại là thứ ngôn ngữ của nghệ thuật, phong phú và đậm tính thi ca, có thừa khả năng biểu đạt cảm xúc và các tâm trạng thay đổi của chúng ta.

*****
Theo một từ điển về hoa được biên soạn từ đầu thế kỷ 19, khi gửi đi một thông điệp hoa, người ta phải tuân theo vài nguyên tắc cơ bản : "Khi một bông hoa được trao tặng với tình trạng tự nhiên của nó thì ý nghĩa sẽ được hiểu theo thể xác định, còn ngược lại có nghĩa là phủ định".

Ví dụ, một nụ hồng có đủ cả lá và gai thể hiện nỗi âu lo nhưng kèm theo hy vọng. Nhưng nếu nụ hồng ấy bị tước bớt lá và gai, nó sẽ được hiểu là chẳng âu lo cũng chẳng hy vọng. Cũng với nụ hồng đó, nếu đã bị tước hết cả lá lẫn gai nó lại được hiểu là đang hy vọng và lạc quan nhất. Và khi người ta ngắt bỏ bớt các cánh hoa và giữ lại đầy đủ lá gai thì đó chính là nỗi niềm đang ấp ủ những lo âu sợ hãi tệ hại nhất.

Cúc vạn thọ là biểu tượng của sự thất vọng (phương Đông thì lại quan niệm khác), để nó lên đầu có nghĩa là nỗi lo lắng của trí óc, đặt lên trái tim là nỗi đau của tình yêu, đặt lên giữa ngực là sự chờ đợi mỏi mòn.

Đại từ "tôi" thường được thể hiện bằng cách nghiêng biểu tượng hoa về bên phải, và đại từ "bạn" thì nghiêng về bên trái.


Saturday, February 19, 2005

Hoa nơi triền núi cũ


Miền rừng núi của tôi đang hoa. Ôi mùa hoa cũng như xưa, dù đã bao nhiêu năm qua rồi! Tôi đã có dịp trở lại sau những năm dài biền biệt. Tôi đã gặp từ xa những vạt hoa vông đỏ chói lói, thứ hoa mà dưới xuôi này, người ta gọi là hoa nhạn lai hồng, hoa trạng nguyên.

Tôi đã gặp lại suối Nậm La trong xanh hiền hòa, chiều đông gái bản xuống tắm, vai trần kỳ ảo mơn mởn giữa xanh trong. Những gái bản sinh sau ngày tôi đi xa bản nhỏ mà vẫn bóng dáng của ngày xưa nôn nao…

Như đang trở lại những mùa xuân, mùa của trai gái nhìn nhau trong hội ném còn, gửi tâm sự cho nhau qua những đường còn chao lên đáp xuống nơi bãi cỏ xanh bản Phiêng Ngùa.

Phiêng Ngùa nghĩa tiếng Thái là bãi chăn ngựa của nhà quan lang. Giờ mường bản không còn quan lang nhưng bãi cỏ rộng thì vẫn còn đó cho bản tổ chức lễ hội mùa xuân…. Quà còn tám múi thổ cẩm, bên trong chứa đầy những hạt bông khô nở, vừa đầm, vừa nhẹ. Trai gái thăm giò tình ý của nhau, ngỏ lời với nhau qua đường còn, chàng tung mà nàng đón bắt, rồi có khi cố ý, chàng nàng tung những đường còn khô cho nhau để cố ý bắt trượt lấy cớ mà trao khăn piêu, trao áo cho nhau giữa bao ánh mắt mọi người để làm như một lời thề ước ra xuân hẹn cùng nhau xuống suối lên nương…

Tôi chưa tới tuổi biết yêu nhưng vẫn biết nhìn ngắm không chán những cánh tay dài và khỏe, những cái ức cao phập phồng, những cái lườn tròn thon của các chị gái Thái đang say mê đánh trống đầu bản ngày Tết. Tiếng trống cứ bập bùng nối nhau mãi suốt những ngày xuân…. Đôi khi tôi cũng chen vào cầm dùi thử giữ nhịp trống. Một chị xoa đầu tôi khi tôi ngừng lại thở dốc, mặt nóng bừng bừng:”Cố lên em nhé. Sắp thành trai bản rồi đấy!”

Tôi chưa biết yêu nhưng rất thích ngắm những cặp đùi dài các chị đặt trên đó những hạt mắt lẹ bắn đổ hàng mắc lẹ khác trên đất trong chò trơi bắn mắc lẹ của bản tôi… Tôi thích ngồi trong góc sàn mà nghe các chị, các anh cùng các bà, các ếm hát khắp suốt đêm dài bên coóng rượu cần. Những khắp mừng nhà mới, khắp hính, khắp sỏng sên, khắp đầy tháng con trai…

Ngày nhỏ, chúng tôi có thể sống trong rừng suốt ngày, miễn có chút muối mang theo và chút lửa giữ trong nùi rơm. Ngày chúng tôi đi luồn rừng. Đêm chúng tôi ngủ trên những chạc cây vững chắc dưới ánh trăng vàng thanh khiết mênh mang. Rừng cho chúng tôi nghe không chán những tiếng chim, tiếng thú trong tiếng rì rầm bất tận của suối reo, tiếng rù rù thanh nhẹ của những bầy ong bay, theo đó mà lần, thế nào cũng tìm ra những đõ mật thơm lừng…

Rừng cho những loại củ vùi trong những hốc đá, cho những loại rau mọc bên bờ suối vắng, tất cả đều có thể cho vào trong những ống nứa đặt trong những đống lửa rừng mới được đốt lên làm món lam, vị còn mang theo suốt đến bây giờ. Và rừng cho cơ man nào là những loại quả ăn được trên những vòm cây…

Đời người nhìn cây, mỗi tuổi một khác. Khi nhỏ, ngước lên vòm cây là để tìm quả. Lúc trưởng thành, biết kín đáo nhìn cô bạn gái cùng lớp mà bỗng nhiên hồng dậy cũng là lúc biết nhìn cây mà ngắm vẻ đẹp của hoa e ấp nở. Thêm tuổi nữa là nhìn cây lâu hơn, ánh mắt điềm tỉnh hơn để ngắm cành, ngắm thế. Có tuổi, ngoài ngắm hoa, ngắm cánh, là biết nhìn cây mà ngẫm nghĩ…

Đặt tay vào gốc ban già, ngắm nhìn không chán màu hoa mới trên triền núi cũ để trở về bóng dáng cậu bé ngày mới lớn. Và rồi sẽ lại khao khát ra đi đến bao nhiêu miền đất mới…

Theo Sài Gòn Tiếp Thị (Nguồn Dalatrose.com)